Sản Phẩm Mới

Đánh giá phức hợp chống oxy hóa trên các chỉ số của tinh trùng như mật độ, khả năng vận động và hình thái ở những bệnh nhân vô sinh nam do tinh trùng yếu – dị dạng vô căn
 
Jesús mateos Blanco* and Juan Alonso Cabo González
Urology Service, Infanta Cristina Hospital, University of Babajoz Hospital complex, Badajoz, Spain.
Received on 5 July 2011; accepted on 25 July 2011.
 
 
Giới thiệu: Ngày nay, các yếu tố nam chịu trách nhiệm cho khoảng 40% các trường hợp của các cặp vô sinh, chia sẻ với hình thức bổ sung trong gần 20% với yếu tố nữ tính, cho những gì của hình thức chung cả hai giới , như vậy yếu tố nam đại diện cho 50% tất cả các trường hợp. Mặc dù thiếu bằng chứng khoa học, việc điều trị thực nghiệm đã được sử dụng rộng rãi và tiếp tục được thực hiện hiện nay, về cơ bản để chi phí của hợp chất vitamin và nguyên tố vi lượng khác, mà do sức mạnh chống oxy hóa của mình, nó cho phép cải thiện các thông số tinh như di động hoặc hình thái.
 
Mục tiêu: Để nghiên cứu những thay đổi trong các thông số chuyên biệt trong một nhóm bệnh nhân với idiophatic oligoastenoteratozoospermia, mà được điều trị bởi các phức hợp chống oxy hóa.
 
Vật liệu và phương pháp: 40 bệnh nhân với idiophatic oligoastenoteratozoospermia được điều trị bằng các phức hợp chống oxy hóa Androferti/Oximum (Laboratories Q- Pharma).
 
Kết luận: Nghiên cứu đã chứng minh cải thiện các thông số tinh trùng: nồng độ, di động tiến tới và hình thái sau 3 và 6 tháng điều trị, cho thấy có ý nghĩa thống kê về phân tích các thông tin, trong đó, có sự cải thiện về tổng số lượng của tinh trùng di động (REM), cho phép các bệnh nhân dễ tham gia công nghệ hỗ trợ sinh sản (TRA) như trong thụ tinh ống nghiệm (FIV) hoặc tiêm tinh trùng (ICSI ) có tính đảm bảo cao, hoặc thậm chí, những cặp người do REM ban đầu nhất thiết phải sử dụng đến các công nghệ sinh sản nói trên, họ có thể yên tâm làm thụ tinh nhân tạo (IAC) trước khi cải thiện kinh nghiệm.
Rev Int Androl. 2011; 9 (3): 109-115
ANDROLOGÍA
ORIGINAL (BẢN GỐC)
 
Đánh giá phức hợp chống oxy hóa trên các chỉ số của tinh trùng như mật độ, khả năng vận động và hình thái ở những bệnh nhân vô sinh nam do tinh trùng yếu – dị dạng vô căn
 
Jesús mateos Blanco* and Juan Alonso Cabo González
Urology Service, Infanta Cristina Hospital, University of Babajoz Hospital complex, Badajoz, Spain.
Received on 5 July 2011; accepted on 25 July 2011.
 
Đánh giá phức hợp chống oxy hóa trên các chỉ số của tinh trùng như mật độ, khả năng vận động và hình thái ở những bệnh nhân vô sinh nam do tinh trùng yếu – dị dạng vô căn (idiophatic oligoastenoteratozoospermia)
 
Giới thiệu: Ngày nay, các yếu tố nam chịu trách nhiệm cho khoảng 40% các trường hợp của các cặp vô sinh, chia sẻ với hình thức bổ sung trong gần 20% với yếu tố nữ tính, cho những gì của hình thức chung cả hai giới , như vậy yếu tố nam đại diện cho 50% tất cả các trường hợp. Mặc dù thiếu bằng chứng khoa học, việc điều trị thực nghiệm đã được sử dụng rộng rãi và tiếp tục được thực hiện hiện nay, về cơ bản để chi phí của hợp chất vitamin và nguyên tố vi lượng khác, mà do sức mạnh chống oxy hóa của mình, nó cho phép cải thiện các thông số tinh như di động hoặc hình thái.
 
Mục tiêu: Để nghiên cứu những thay đổi trong các thông số chuyên biệt trong một nhóm bệnh nhân với idiophatic oligoastenoteratozoospermia, mà được điều trị bởi các phức hợp chống oxy hóa.
 
Vật liệu và phương pháp: 40 bệnh nhân với idiophatic oligoastenoteratozoospermia được điều trị bằng các phức hợp chống oxy hóa Androferti/Oximum (Laboratories Q- Pharma).
 
Kết luận: Nghiên cứu đã chứng minh cải thiện các thông số tinh trùng: nồng độ, di động tiến tới và hình thái sau 3 và 6 tháng điều trị, cho thấy có ý nghĩa thống kê về phân tích các thông tin, trong đó, có sự cải thiện về tổng số lượng của tinh trùng di động (REM), cho phép các bệnh nhân dễ tham gia công nghệ hỗ trợ sinh sản (TRA) như trong thụ tinh ống nghiệm (FIV) hoặc tiêm tinh trùng (ICSI ) có tính đảm bảo cao, hoặc thậm chí, những cặp người do REM ban đầu nhất thiết phải sử dụng đến các công nghệ sinh sản nói trên, họ có thể yên tâm làm thụ tinh nhân tạo (IAC) trước khi cải thiện kinh nghiệm.
 
GIỚI THIỆU
 
Sự vô sinh (sterility) được định nghĩa là cặp vợ chồng không có khả năng thụ thai sau một năm sinh hoạt tình dục mà không áp dụng bất kỳ biện pháp tránh thai nào cả. Khác với không khả năng sinh sản (infertility), cặp vợ chồng vô sinh là chưa bao giờ thụ thai, trái lại không khả năng sinh sản là có thụ thai nhưng sau đó sẩy thai. Mặc dù chúng khác nhau, nhưng 2 thuật ngữ này thường được dùng đồng nghĩa trong y văn 1-3. Khoảng 13 – 18% các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ có vần đề sinh đẻ xảy ra.
 
Mỗi năm có khoảng 16.000 cặp vợ chồng đến các trung tâm hỗ trợ sinh sản ở Tây Ban Nha. Trong đó có 20% vô sinh do nam giới. 30 – 40% do các yều tố của cả 2 giới nam và nữ; như vậy yếu tố vô sinh do nam giới có liên quan đến một nửa trong tất cả các cặp vợ chồng vô sinh.
 
Toàn bộ quá trình trưởng thành của tế bào tinh trùng nam kéo dài 74 ngày ở điều kiện 32 – 35°C. Sự trưởng thành chức năng tiếp tục khi tinh trùng đi qua mào tinh, ống dẫn tinh và bộ phận phóng tinh thêm 14 ngày.và kết thúc ở trong cơ quan sinh sản của phụ nữ và đạt khả năng thụ thai với noãn khi xâm nhập vào nó.
 
Tinh trùng ít được định nghĩa khi mật độ của tinh trùng dưới 15 triệu con/ 1ml và nó chỉ xảy khi làm theo cách phân lập. Tinh trùng yếu hay tinh trùng khiếm khuyết khả năng vận động được định nghĩa khi ít hơn 32% di chuyển tiến tới loại A + B. Cuối cùng là hình thái của tinh trùng được xem làm bình thường khi nhiều hơn 4%, theo trị số của  sổ tay xét nghiệm của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về khám và đánh giá tinh dịch người và tương tác của tinh dịch với niêm mạc cổ tử cung xuất bản lần thứ 5. Những khiếm khuyết này cùng xảy ra là hậu quả của giãn thừng tinh hay những nguyên nhân vô căn; nhóm vô căn xảy ra ở 25% bệnh nhân không có nguyen nhân có thể xác định gây phân tích tinh dịch bất thường.
 
Điều trị theo kinh nghiệm đã được khuyến cáo cho các trường hợp tinh trùng yếu – dị dạng vô căn nhưng một phần những ngoại lệ không chứng minh hiệu quả. Một phân tích hồi cứu những nghiên cứu có đối chứng trên vô sinh nam vô căn đã không thẩm tra những trị liệu sẵn có hiệu quả., mặc dù những báo cáo của những ca lựa chọn và những cặp bệnh nhân đã chứng minh một số điều trị hiệu quả.
 
Một trong nhựng điều trị theo kinh nghiệm được sử dụng là phức hợp chứa các thành phần vitamin (A, E, C), những nguyên tố vi lượng, thành phần dinh dưỡng (L-carnitine) và thành phần kháng viêm (diclofenac) dựa vào hoạt tính chống oxy hóa bỡi vì gốc tự do có liên quan đến nguyên nhân gây vo sinh nam cũng như làm biến đổi chất nhiễm sắc của tinh trùng. Tuy nhiên, chúng không thể chứng minh rằng chúng hiệu quả trong nhựng nghiên cứu có đối chứng vì chúng sẽ tập trung ở đâu trong cơ quan sinh dục nam chưa được biết rõ. Tương tự, L-carnitine, là một phân tử tham gia vào quá trình chuyển hóa của ty lạp thể bằng cách giúp vận chuyển nhóm acetyl qua màng trong ty lạp thể tạo ra năng lượng cần thiết để cải thiện sản sinh tinh trùng và khả năng di chuyển, đã không chứng minh có hiệu quả trực tiếp trên mật độ của tinh trùng và khà năng sinh sản, mặc dù những nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đã chứng minh rằng thêm L-carnitine và acetyl-L-carnitine có vẻ làm tăng khả năng di chuyển của tinh trùng. Carnitine đường uống không làm tăng mật độ tinh trùng trong mào tinh.
 
NGUYÊN LIỆU & PHƯƠNG PHÁP
 
Nghiên cứu này được thực hiện trên 40 đàn ông bị vô sinh do tinh trùng yếu và dị dạng vô căn tham gia điều trị hỗ trợ sinh sản tại “Trung tâm hỗ trợ sinh sản Extremeno – CERHA). Sau khi ghi nhận bệnh sử và khám thực thể lâm sàng của họ, họ được tham gia nghiên cứu hormone, karyotype và những khiếm khuyết vi thể của nhiễm sắc thể Y; tất cả các kết quả phải bình thường. Không ai trong số họ có giãn thừng tinh lâm sàng, hay canh cấy nước tiểu hay tinh dịch dương tính. Tất cả các bệnh nhân đều được khuyến cáo dùng Androferti® / Oximum® 1 gói mỗi 12 giờ. Thành phầm bao gồm; 750 mg L-carnitine, 10 mg coenzyme Q10, 5 mg kẽm, 100µg acid folic, 25 µg selenium, 0,5 µg vitamin B12, 30 mg vitamin C và 5 mg vitamin E. Tất cả các bệnh nhân đều nhận 2 tinh dịch đồ đối chứng 3 và 6 tháng khi bắt đầu điều trị. Nghiên cứu đã được duyệt bỡi Ủy ban đạo dức nghiên cứu lâm sàng của bệnh viện.
 
Nhựng thong số của mật độ tinh trùng, di chuyển tiến tới (A+B) và hình thái của tinh trùng được nghiên cứu theo trị số của  sổ tay xét nghiệm của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về khám và đánh giá tinh dịch người và tương tác của tinh dịch với niêm mạc cổ tử cung xuất bản lần thứ 5.
 
Phân tích dữ liệu và đánh giá điều trị, nếu có sự khác biệt đáng kể qua điều trị, được thực hiện bằng phần mềm R, giấy phép GNU.
 
KẾT QUẢ
 
Kết quả phân tích mô tả
 
Phân tích sau cho thấy cách thức hoạt động của dữ liệu cho mỗi biến đổi được phân tích (mật độ tinh trùng, di chuyển tiến tới kiểu A+B, hình thái và tinh trùng có đủ khả năng) ở thời điểm phân tích (trước khi dùng Androferti® /Oximum®, 03 tháng và 06 tháng).
 
Mật độ tinh trùng
Phân tích mô tả (hình 1-2) cho thấy khoảng tin cậy (CI) giữa 10,8  và 69,0 ở thời điểm 0 tháng trong khi giá trị sau 06 tháng 15,25 và 84,0. Vì thế, có một cải thiện từ 0 đến 06 tháng, đó là sự khác biệt đáng kể (trong kiểm tra thống kê phần sau).
 
Di chuyển kiểu A
Những trị số phát tán và trung tâm được đại diện bằng trung bình khi dữ liệu khớp với sự phân bổ bình thường của phương pháp kiểm tra Anderson-Darling. Vì thế, khoảng tin cậy trước khi điều trị (25,49 ± 16,58) cho thấy sự phát tán dữ liệu cao, với độ lệch chuẩn tương ứng (RSD) của 65%. Điều này giảm 54% sau 06 tháng điều trị. Kiểu A tăng 23% trong trị số trung bình cũng được quan sát thấy (25,49 đến 31,35) (hình 3-4).
 
Di chuyển tiến tới kiểu A+B
Trong phân tích này với biến đổi của di chuyển kiểu A+B, dùng Androferti® 06 tháng đã cho thấy giảm sự phân tán từ 56% xuống 45% và trị số trung bình tăng 32,7 lên 42,47.
Khoảng tin cậy là 32,7 ± 18,3 lúc 0 tháng, dữ liệu thay đổi giữa 14,4 và 51, cải thiện lúc 06 tháng điều trị (CI 42,5 ± 19,2) (hình 5-6).
 
Hình thái bình thường
Khi dữ liệu khớp với sự phân phối bình thường, chúng tôi sử dụng trung bình một biện pháp đo lường trung tâm. Trong phân tích này sự biến đổi hình thái bình thường khi dùng Androferti® /Oximum® trong 06 tháng có liên quan với sự giảm phân tán từ 72,6% xuống 60,8% tăng trị số trung bình từ 7,38% lên 10,54%.
 
 
Kết quả đánh giá cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa những đợt điều trị.
Đánh giá của Friedman (Friedman’s test) được dùng để đánh giá sự khác biệt đáng kể. Mặc dù không phải là tham số, nhưng phân tích này đã được sự dụng vì tính thiết thực của nó trong các phép tính với nhiều các trị số phân tán như thấy trong phân tích mô tả. tất cả kết quả đạt được cho thấy rằng sự vô hiệu của giả thuyết qua phân tích của Friedman, đó là những tháng µ0 = µ3 = µ6 đã bị bác bỏ (p-value nhỏ hơn 0,05). Vì thế, có những khác biệt đáng kể giữa những số liệu có được qua khoảng thời gian điều trị, khi thấy dữ liệu trung tâm (bảng 1), với sự khác biệt đáng kể trong tất cả các trường hợp.
 
Bảng 1 – Kết quả đánh giá ý nghĩa của những sự khác biệt trong điều trị
 
0 tháng
3 tháng
6 tháng
Mức tăng
 
Mức độ tăng đáng kể?
Giá trị WHO
xuất bản - 5th
 
 
 
 
từ 0-6 tháng
Mật độ (triệu/ml)
45,76
49,98
72,02
26,26
Có, tăng trị số của Friedman’s test
15
% di chuyển (Kiểu A)
25,49
29,9
31,35
5,86
Có, Friedman’s test
NA
% di chuyển tiến tới (Kiểu A+B)
32,71
40,63
42,48
9,77
Có, Friedman’s test
32
% hình thái bình thường
7,39
10,19
 
3,15
Có, Friedman’s test
4
Tinh trùng có khả năng
3,1
4,8
5,6
2,5
Có, Friedman’s test
5
(số triệu tinh trùng đếm được)
 
 
 
 
 
 
 
THẢO LUẬN
 
Những gốc oxy phản ứng (ROS) là những gốc tự do được tạo ra từ chuyển hóa của oxy, xảy ra ở cấp độ tế bào. Một số lượng nhỏ gốc tự do trong cơ quan sinh dục nam tham gia một phần trong chức năng của tinh trùng. Tuy nhiên, một lượng quá mức (liên quan khả năng chống oxy hóa) sẽ chịu trách nhiệm cho việc gây ra stress do oxy hóa, và điều này dẫn đến gây tổn hại bỡi 2 cơ chế khác nhau: sự phân mảnh của DNA, phá vỡ những chuỗi đơn hay đôi và gây tổn thương quá trình peroxy hóa màng tương bào của tinh trùng làm thay đổi khả năng vận động của tinh trùng.
 
Những chất chống oxy hóa liên tục bất hoạt các gốc tự do và có 3 cách xảy ra trong cơ thể: các chất chống oxy hóa nội sinh (coenzyme Q10, acid uric), chất chống oxy hóa trong thực phẩm (vitamin C, vitamin E, carotenoids, flavonoids) và proteins mang kim loại (albumin, transferrin, ferritin, vv..).
 
Những chẩn đoán lý do đưa đến stress do oxy hóa bao gồm giãn thừng tinh, những bệnh toàn thân (tiểu đường, ung thư, những bệnh tim mạch) và nhiễm trùng của cơ quan sinh dục nam,  cũng như các yếu tố khác như rượu bia, thuốc lá, tiếp xúc mội trường nhiệt độ cao và ô nhiễm môi trường.
 
Những chất chống oxy hóa trong thức ăn từ trái cây và ra quả. Tuy nhiên một khẩu phần ăn giàu chất oxy hóa  đã không cho thấy mối tương quan giữa ăn vào ăn nhiều chất chống oxy hóa và mức độ phân mảnh DNA của tinh trùngtrong nghiên cứu của Silver và cộng sự, mặc dù có một mối liên hệ tích cực trong cải thiện các thông số của tinh trùng.
 
Vitamin C được tìm thấy nồng độ cao trong tinh dịch, nó có khả năng bảo vệ tinh trùng và loại bỏ các gốc tự do hydroxyl, siêu peroxide hydro và peroxide hydro. Trong nghiên cứu của Dowson và cộng sự thực hiện trên 75 người hút thuốc có khả năng sinh sản, 2  nhóm dùng vitamin C cho thấy sự cải thiện đáng kể chỉ số vể mật độ, sống và vận động của tinh trùng, mặc dù nghiên cứu của Rolf và cộng sự không cho thấy hiệu quả.
 
Vitamin E hành sử như một hiệu ứng bảo vệ màng của tinh trùng. T rong nhiên cúu của Suleiman và cộng sự, vitamin E cải thiện khả năng di động của tinh trùng. Tuy nhiên, một nghiên cứu khác ngẫu nhiên, mù đôi và có đối chứng được thực hiện bỡi Rolf và cộng sự không cho thấy cải thiện. Vì thế mâu thuẫn với những kết quả cải thiện thong số của tinh trùng.
 
Coenzyme Q10 tìm thấy trong ty lạp thể của đoạn giữa tinh trùng. Trong một nghiên cứu trên 22 đàn ông bị vô sinh do tinh trùng yếu và dị dạng vô căn của Baleria và cộng sự cho thấy sự cải thiện đáng kể trong khả năng vận động của tinh trùng so với kết quả trước khi điều trị ở 22 đàn ông bị vô sinh do tinh trùng yếu và dị dạng vô căn.
 
Carnitine loại bỏ độc tố ngoại bào là acetyl CoA, chất chịu trách nhiệm cho gốc tự do trong ty lạp thể, và tìm thấy nồng độ cao trong mào tinh. Mặc dù có nghiên cứu không đối chứng của Costa và cộng sự đạt được sự cải thiện khả năng di chuyển của tinh trùng, nhưng cũng có những nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng cho kết luận không tăng số lượng tinh trùng và khả năng vận động.
 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, sau khi phân tích thống kê các thôn số như mật độ, di chuyển tiến tới (kiểu A+B) và hình thái của tinh trùng cho thấy một sự cải thiện đáng kể trong tinh dịch đồ thực hiện khi 6 tháng điều trị so với khi bắt đầu và lúc điều trị 3 tháng. Tương tự như vậy số lượng tinh trùng cải thiệu sau 3 và 6 tháng điều trị, đạt kết quả cao nhất khi kết thúc điều trị.
 
Vì thế, sử dụng phức hợp chất chống oxy hóa bao gồm các vitamin, nguyên tố vi lượng, cũng như cải thiện các thông số được đo lường trong nghiên cứu, cũng cải thiện số lượng tinh trùng. Điều này có thể xác định khi chỉ định kỹ thuật sinh sản hỗ trợ để đạt lợi ích cao nhất cho cặp vợ chồng.
 
KẾT LUẬN
 
Sử dụng phức hợp Androferi® /Oximum® cải thiệc các chỉ số của tinh trùng đáng kể trong suốt thời gian nghiên cứu và không có tác dụng phụ. Sự cải thiện được tìm thấy ở tinh trùng trong 06 tháng điều trị trong nghiên cứu phân tích cho phép kết luận rằng nó hữu ích trong việc duy trì hay cải thiện lực chọn của các cặp vợ chồng trong điều trị kỹ thuật sinh sản hỗ trợ. Đã cho sự biến đổi trong phân tích tinh dịch và xảy ra thụ thai ở vài cặp vợ chồng mà không cần điều trị kỹ thuật sinh sản hỗ trợ, cần thực hiện nghiên cứu đối chứng với giả dược (placebo), ngãu nhiên, mù đôi và nghiên cứu chéo để xác định hiệu quả của điều trị theo kinh nghiệm, khi kết quả được đánh giá phải xem tỉ lệ thụ thai. Cho đến khi đó, chỉ định chất chống oxy hóa chỉ đơn thuần là theo kinh nghiệm; mặc dù những nghiên cứu trong tương lai có thể tiết lộ nếu việc sử dụng nó làm cải thiện những chỉ số khác trong kỹ thuật sinh sản hỗ trợ như chất lượng của phôi thai hay thất bạl của cấy phôi.
 
Xung đột lợi ích
 
Các tác giả tuyên bố rằng họ không có xung đột lợi ích.
 
Editor: Do Minh Tu MD.